3 tháng 6, 2013

Canxi và Phospho trong thức ăn thủy sản

Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành xương. Trong xương cá Ca chiếm tỉ lệ cao. Ở vảy cá rô phi hàm lượng Ca cũng chiếm đến 19 – 21%. Hàm lượng Ca trong một số loài cá giảm khi sinh sản và thức ăn thiếu Ca, điều này cho thấy Ca được hấp thu từ vảy cho các hoạt động sinh lí. Tỉ lệ Ca:P ở vảy và xương cá là 1.5 – 2.1 và tỉ lệ Ca:P cả cơ thể là 0.7 – 1.6. ngoài vai trò cấu trúc cơ bản của xương, Ca còn tham gia vào quá trình đông máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

21 tháng 5, 2013

Các chất oxy hóa tăng cường chất lượng nước

Các chất oxy hóa được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản có tác dụng khử trùng hoặc để tăng cường chất lượng nước. Hydrogen peroxide (H2O2 – oxy già) và sodium carbonate peroxyhydrate (Na2CO3·1.5H2O2) có thể dùng làm nguồn cung cấp oxy hòa tan trong các trường hợp khẩn cấp khi không thể có được sục khí cơ học. Sodium nitrate (Na2NO3) và calcium peroxide (CaO2) có thể được sử dụng như là các chất oxy hóa bùn lắng. Khi được sử dụng đúng hàm lượng, các hợp chất peroxide an toàn về môi trường, bởi vì chúng tan thành nước, oxy phân tử, ion sodium (Na+) hoặc calcium (Ca2+) và bicarnonate (HCO3-). Sodium nitrate cũng có thể không gây ra các vấn đề môi trường.

13 tháng 5, 2013

“Hóa giải” hội chứng tôm chết sớm?

Hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính ở tôm nuôi (AHPNS) đã và đang đặt ngành tôm châu Á trước chuỗi ngày đen tối.

1 tháng 5, 2013

Nuôi tôm cần tảo đậm hay tảo nhạt ?

Nuôi tôm không thể thiếu tảo. Tảo cùng với máy quạt nướclà nguồn cung cấp ôxy quan trọng cho ao nuôi. Tảo tạo thành “tấm che” ngăn bớt ánh sáng chiếu xuống đáy giúp tôm giảm stress (sốc) và hạn chế tảo đáy phát triển. Ngoài ra tảo còn là nguồn thức ăn tự nhiên gián tiếp trong giai đoạn tôm còn nhỏ.

Khí độc H2S - “sát thủ giấu mặt” của tôm nuôi

Trong quá trình nuôi, các chất thải được máy quạt nước gom tụ vào giữa đáy ao (đối với ao đáy bùn đất thì một lượng chất thải vẫn còn phân bố xung quanh nền đáy). Đống chất thải này phân thành 2 lớp. Lớp ngoài rất mỏng (khoảng 5 mm) được ôxy hoá nên có màu tương đối sáng, có chức năng bao phủ và hạn chế khí độc thoát ra ngoài. Lớp bên dưới có màu đen, chất thải ở điều kiện thiếu ôxy nên vi khuẩn khử lưu huỳnh tạo ra khí độc H2S.

24 tháng 4, 2013

Loại bỏ độ đục từ nước ao nuôi

Tóm tắt:
Các vấn đề về độ đục trong nước ao nuôi trồng thủy sản thường là do các hạt đất sét hoặc các hạt bùn/phù sa mịn vẫn lơ lửng do sự nhiễu loạn của nước hoặc quá trình lắng đọng quá mức. Độ đục có thể cũng ảnh hưởng đến các ao được bón phân hữu cơ, phân hóa học hoặc là có thức ăn. Xử lý bằng các chất keo tụ như alum (phèn nhôm) và thạch cao thông thường làm hết độ đục từ các ao. Tuy nhiên, độ đục có thể trở lại bởi vì các nguồn gây đục không được kiểm soát. Phương pháp tốt nhất là loại bỏ các nguồn gây đục và chỉ sử dụng alum (phèn nhôm) nếu độ đục vẫn còn.

6 tháng 4, 2013

Đối phó bệnh EMS/AHPNS trên tôm

Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính và cách phòng trừ bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPNS) trên tôm. Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về bệnh EMS/AHPNS vì thế càng đáng chú ý.

Ảnh hưởng của Dipterex đến đời sống thủy sinh vật và con người

Dipterex là thuốc trừ sâu lân hữu cơ chứa hoạt chất Trichlorfon được sử dụng để diệt côn trùng như gián, rệp, bọ chét, ruồi, bọ ve, và rầy lá. Dipterex còn được sử dụng rộng rãi trong cây trồng và rau quả cũng như dùng diệt ký sinh trùng trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, từ năm 2005, Dipterex đã được liệt vào danh mục những hóa chất kháng sinh bị cấm sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản.

Quy trình nuôi tôm 3 pha để kiểm soát dịch bệnh gan tụy cấp tính trên tôm (Three phase farming protocol to reduce risks of AHPNS)

Trên cơ sở hiểu biết dịch bệnh gan tụy, với các nghiên cứu hiện nay đang tập trung mối nghi ngờ vào nguyên nhân chính gây bệnh gan tụy là bacteriophages cùng với quan sát thực tiễn ổ dịch và bản chất của dịch bệnh gan tụy, TS. Nguyễn Duy Hòa (Giám đốc bán hàng và hỗ trợ kỹ thuật của Công ty INVE Aquaculture) từ lâu đã đưa yếu tố tảo độc vào một trong các mối nghi ngờ gây hoại tử gan tụy cấp tính.

2 tháng 4, 2013

Khí carbonic trong ao nuôi thủy sản

Nguồn khí carbonic (CO2) trong ao nuôi thủy sản chủ yếu sinh ra từ hoạt động hô hấp của sinh vật và tảo, ngoài ra quá trình phân giải chất hữu cơ cũng tạo ra khí carbonic đáng kể. Người nuôi chủ yếu quan tâm việc quản lý hàm lượng oxi hòa tan trong khi khía cạnh các yếu tố cân bằng oxi là khá quan trọng.

Chất lượng nước nuôi tôm thẻ chân trắng

Bài viết dưới đây giới thiệu các chỉ tiêu chất lượng nước cần theo dõi trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng - được dịch từ Sổ tay nuôi tôm thẻ chân trắng của Hawaii - Mỹ.

Các chỉ tiêu chất lượng nước và khoảng cho phép đối với nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng:

Các trường hợp gây trắng hay đục cơ ở Tôm chân trắng

Khác với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thường xảy ra hiện tượng đục cơ. Sau đây là các trường hợp gây đục cơ và những giải pháp khắc phục khi nuôi tôm chân trắng.

26 tháng 3, 2013

Kháng sinh nhóm Flouroquinolone và những điều cần lưu ý

Kể từ khi chất có tính kháng khuẩn được phát hiện (Alexander Fleming phát hiện ra penicillin từ nấm penicillium năm 1928 và hơn 10 năm sau thì kháng sinh đầu tiên được đưa vào sử dụng) cho đến nay nhiều loại kháng sinh đã được đưa vào sử dụng và kháng sinh đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người.

Vai trò vi khuẩn Bacillus sp. trong xử lý bùn đáy ao nuôi tôm

1. Đặc tính đáy ao và ảnh hưởng của nền đáy đến năng suất nuôi

Bùn đáy ao là chất vô định hình, màu tối, có chứa: Carbohydrate (1,3%); Hemicellulose (3,0%); Cellulose (0,4%); Lignin (4,2%); Axit humic (29,6%); Axit funvic (22,0%); Humin (36,5%). Theo Lin và Nash (1996) có khoảng 26% nitơ và 24% phốt-pho từ nguồn thức tích lũy trong bùn đáy ao nuôi tôm thâm canh. Trong khi đó Funge-Smith và Briggs (1998) tìm thấy trong bùn đáy tích lũy 24% nitơ và 84% phốt-pho từ nguồn thức ăn. Munsiri et al. (1996) cho rằng các ao nuôi lâu ngày tích lũy nhiều chất hữu cơ hơn ao mới. Lượng thức ăn thừa cùng với phế thải hữu cơ là những yếu tố làm cho ao nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng và phá hủy các vùng sinh thái nuôi thủy sản làm cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển và lan rộng một cách nhanh chóng. Trong đa số trường hợp, dịch bệnh xảy ra là kết quả của sự thoái hóa môi trường và tôm bị sốc, bao gồm cả bệnh do vi khuẩn và bệnh do virus. Để giải quyết vấn đề ô nhiễm đáy ao các vi khuẩn Bacillussp.nay đã trở thành hàng hóa ở một số nước và đang hình thành ngành công nghiệp sản xuất vi sinh giống như các ngành công nghiệp khác phục vụ cho NTTS (Zhou et al., 2009).

Vai trò của hợp chất Oligosaccharide trong Nuôi trồng Thủy sản

Mô hình nuôi thủy sản thâm canh thường có một số đặc điểm chính như mật độ cao và năng suất cao. Trong mô hình này, nếu điều kiện môi trường không phù hợp (hàm lượng oxy hòa tan thấp, pH quá thấp hoặc quá cao, hàm lượng ammonia cao,…) hoặc biện pháp quản lý kém (không cung cấp đủ chất dinh dưỡng, thức ăn chất lượng kém, cho ăn thừa, thả nuôi mật độ quá cao) sẽ gây stress cho động vật thủy sản nuôi và dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm, dịch bệnh dễ xảy ra và tỷ lệ sống thấp. Dịch bệnh do vi khuẩn gây ra là một trong những trở ngại chính của mô hình nuôi thủy sản thâm canh.

Hệ vi khuẩn đường ruột của Tôm sú (Penaeus monodon) và Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)

Mối quan hệ giữa vi khuẩn và vật nuôi đã được công nhận là yếu tố quyết định đến sức khỏe của vật nuôi. Vi khuẩn trong hệ đường ruột của động vật thủy sinh đóng vai trò quan trọng đối với khả năng tiêu hóa của vật nuôi. Vì vậy, hệ vi sinh vật đường ruột sẽ ảnh hưởng đến vật nuôi về mặt dinh dưỡng, sự đáp ứng miễn dịch và khả năng đề kháng bệnh của vật nuôi (Austin, 2006; Rawls et al., 2004). Sự hiện diện và vai trò của vi khuẩn đường ruột ở động vật giáp xác chưa được nghiên cứu và công bố một cách đầy đủ (Tang et al., 2010). Một số tài liệu cho rằng trong ao, tôm thường xuyên sống trong môi trường nước có mật độ vi khuẩn cao, dao động khoảng 106 to 107 CFU/mL nên không tránh khỏi bị tác động bởi môi trường nuôi (Abraham et al., 2004; Maeda 2002). Mối liên hệ giữa vi khuẩn trong môi trường nuôi và vi khuẩn đường ruột luôn tác động qua lại với nhau do hoạt động thông thương của vi khuẩn qua các hoạt động tiêu hóa, thức ăn đi vào ruột, nước di chuyển qua đường miệng, do vi khuẩn cư trú tạm thời và nhiều nhân tố khác nữa như: cấu tạo hình dạng bên ngoài của vật nuôi, cấu trúc hệ tiêu hóa, chế độ ăn, điều kiện sống của vật chủ và mùa vụ nuôi (Harris 1993).

Sử dụng EDTA trong Nuôi trồng Thủy sản

1. Đặc tính của EDTA và những ứng dụng trong đời sống

EDTA là từ viết tắt của EthyleneDiamineTetraacetic Acid. Đây là một axít hữu cơ mạnh (hơn 1.000 lần so với axít acetic) (EPA, 2004), được tổng hợp vào năm 1935 bởi nhà bác học F. Munz (Oviedo và Rodriguez, 2003). EDTA và các muối của nó thường ở dạng tinh thể màu trắng hoặc bột, không bay hơi và có độ tan cao trong nước. EDTA được tổng hợp từ ethylenediamine (C2H4(NH2)2), formol (HCHO) và gốc cyanide (HCN hoặc NaCN) (Sinax, 2011). Trong cấu trúc của EDTA có 2 nhóm amin (NH2) và 4 gốc carboxyl (COOH). Sản phẩm thương mại đầu tiên được sản xuất vào năm 1948 và bắt đầu sử dụng trong công nghiệp vì đây là một hợp chất giá rẻ,nhu cầu sử dụng toàn cầu hàng năm khoảng 100.000 tấn (Sinax, 2011). Các sản phẩm thương mại thường ở dạng muối như là CaNa2-EDTA, Na2-EDTA, Na4-EDTA, NaFe-EDTA,… (EPA, 2004).

Bệnh đục cơ trên Tôm càng xanh (Marobrachium RosenbergiiI)

Nghề nuôi tôm càng xanh hiện đang phát triển nhanh ở nước ta đã đem lại lợi ích đáng kể về mặt kinh tế và xã hội, đặc biệt là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích nuôi và sự thâm canh hóa cũng làm xuất hiện nhiều dạng bệnh trên đối tượng nuôi này. Trong số các bệnh thường gặp ở tôm càng xanh thì bệnh đục cơ là bệnh đã gây thiệt hại ở nhiều nơi như Ấn độ, Đài loan, Trung Quốc và Việt nam (Qian et al., 2003; Hameed et al., 2004). Bệnh gây hao hụt lên đến 100% ở tôm bột và cũng gây thiệt hại đáng kể cho tôm trong ao ương hay ao nuôi thịt với tỷ lệ hao hụt có thể lên đến 70-80% (Pillai et al., 2005).